Hôn nhân

1. Xã hội phụ hệ
Đa số các tộc người ở Việt Nam sống theo chế độ phụ hệ: Việt, Dao, Thái, Xinh-mun, Bru -Vân kiều, Ta-ôi, Mạ, Hoa... Dù là gia đình lớn trước kia hay gia đình nhỏ ngày nay, người chồng, người cha có vị thế quan trọng hơn và được được coi là trụ cột của gia đình. Tâm lý thích có con trai là một đặc điểm chung của các cư dân này. Con cái đều mang họ của bố, tuy vậy quyền thừa kế tài sản chỉ thuộc về con trai, nhất là con trưởng. Bên cạnh hình thức gia đình một vợ một chồng tồn tại phổ biến, có một tỷ lệ nhỏ là những gia đình đa thê, nhưng chỉ trong xã hội trước kia.

Trong hôn nhân, nhà trai đóng vai trò chủ động. Lễ cưới diễn ra tại nhà trai và cô dâu chuyển đến cư trú với gia đình bên chồng. Việc cưới hỏi thường trải qua 3 bước chính: lễ dạm hỏi, lễ cưới và lễ lại mặt. Ngoài việc nhờ người mai mối và nhiều nơi có tập tục chọn ngày đẹp, giờ tốt để tiến hành các nghi lễ, nhà trai phải đáp ứng yêu cầu của nhà gái về của cải thông qua thách cưới.
 
   
 
2. Xã hội mẫu hệ
Gia đình mẫu hệ là truyền thống của 6 tộc người ở Tây Nguyên: Ê-đê, Mnông, Gia-rai, Cơ-ho, Chu-ru, Ra-glai, và của người Chăm ở đồng bằng Nam Trung Bộ. Người đàn bà cao tuổi nhất có ảnh hưởng lớn hơn cả và có quyền quyết định trong đời sống gia đình. Sự chủ động trong hôn nhân thuộc về các cô gái hoặc nhà gái. Tuy mỗi tộc người có tập tục cưới hỏi riêng, nhưng các cư dân mẫu hệ đều có những đặc điểm chung, như: chàng rể cư trú đằng vợ, các con mang họ mẹ, con gái thừa kế gia tài và có phần ưu tiên con gái út… Con trai và con gái đều được yêu quý, nhưng người ta vẫn thích có nhiều con gái hơn.
Để hỏi chồng cho con gái và đưa con rể về nhà mình, nhà gái phải đền bù của cải cho nhà trai dưới hình thức lễ vật cưới được thoả thuận giữa đôi bên. Ở với gia đình vợ, người đàn ông vẫn có trách nhiệm lớn đối với gia đình mẹ đẻ và các chị em gái, vẫn đóng vai trò rất quan trọng đối với các cháu gọi anh ta là cậu, đặc biệt trong việc cưới hỏi.