Miền Nam giai đoạn 1954 - 1975


Sau hiệp định Giơnevơ 1954, Việt Nam bị chia làm hai miền. Miền Bắc được giải phóng và bước vào thời kỳ quá độ xây dựng chủ nghĩa xã hội, miền Nam tiếp tục cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, chống đế quốc Mỹ xâm lược thống nhất đất nước. Thực hiện phương châm kết hợp đấu tranh chính trị với vũ trang, phụ nữ miền Nam luôn đi đầu trong các cuộc đấu tranh chính trị ở nông thôn và thành thị, đặc biệt là phong trào Đồng khởi năm 1960. Phụ nữ tích cực tham gia chiến đấu trong các lực lượng vũ trang; cứu chữa thương bệnh binh; nuôi giấu, bảo vệ cán bộ và làm giao thông liên lạc... đóng góp xuất sắc trong chiến đấu và phục vụ chiến đấu. Nhiều người đã anh dũng hy sinh, hàng vạn phụ nữ bị giam cầm, tra tấn dã man trong các nhà tù của địch vẫn một lòng kiên trung với cách mạng... Với những đóng góp to lớn đó, phong trào phụ nữ miền Nam đã được tặng Huân chương Thành đồng hạng Nhất và danh hiệu "Anh hùng, Bất khuất, Trung hậu, Đảm đang". 200 cá nhân, 56 đơn vị nữ được tuyên dương Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân và 30.000 phụ nữ được tặng danh hiệu Bà mẹ Việt Nam anh hùng.
 
1. Đấu tranh chính trị
Đến năm 1965, có gần 20 triệu lượt phụ nữ tham gia đấu tranh. Ở nông thôn, nông dân đấu tranh chống bắt lính, chống dồn dân lập "ấp chiến lược", chống bắn pháo, rải chất độc hóa học, đòi bồi thường nhân mạng… Ở thành thị, nữ công nhân, sinh viên, tiểu thương, trí thức, ni sư Phật tử… tổ chức mít tinh, biểu tình đòi hòa bình, quyền sống, bảo vệ nhân phẩm phụ nữ, đấu tranh bảo vệ văn hoá dân tộc...
 
 
Bà Nguyễn Thị Định vá áo cho chiến sĩ 
 
 Đả đảo giặc Mỹ đã tàn sát dã man đồng bào Sơn Mỹ
 
2. Đấu tranh vũ trang
Toàn miền Nam có 40% dân quân du kích, tự vệ là nữ. Trên 50 Đại đội và nhiều Trung đội du kích, pháo binh nữ chiến đấu ở các vùng nông thôn, rừng núi đã bắn cháy nhiều máy bay, xe cơ giới và pháo hạm địch. Ở thành thị, các đội tự vệ, biệt động nữ tổ chức các trận đánh vào cơ quan đầu não.
 
 
Đội nữ du kích Củ Chi  
 
3. Tình báo và biệt động
Hoạt động thầm lặng, luôn đối mặt với hiểm nguy, các nữ tình báo đã thu thập được nhiều tài liệu bí mật, xử lý chính xác thông tin, có những tin tức giá trị làm thay đổi tình thế giữa ta và địch. Ngoài việc chuyên chở vũ khí, các nữ biệt động còn trực tiếp tổ chức các trận đánh bất ngờ vào các mục tiêu quan trọng của địch.
 
 
Lớp bồi dưỡng chính trị, nghiệp vụ bí mật, Năm Căn, Cà Mau, 1972
 
4. Liên lạc và nuôi giấu cán bộ
Phụ nữ là lực lượng chính trong các hoạt động này. Bằng trí thông minh và lòng quả cảm, các nữ giao liên đã sáng tạo ra nhiều hình thức độc đáo để cất giấu và vận chuyển tài liệu. Nhiều phụ nữ che chở và nuôi giấu cán bộ, bộ đội, du kích, thương binh dưới các hầm bí mật ngay trong lòng địch.
Trạm truyền tin 

5. Đấu tranh trong tù
Chính quyền Sài Gòn xây dựng ở miền Nam 215 nhà tù. Thủ Đức là nơi giam giữ nữ phạm nhân, đặc biệt là tù chính trị. Ở chuồng cọp Côn Đảo, tù nhân bị cùm chân, phải ăn, ngủ, vệ sinh tại chỗ, bị tra tấn bằng dùi cui, roi điện, vôi bột… Mặc dù vậy, các nữ tù vẫn giữ vững khí tiết, liên tục đấu tranh đòi cải thiện chế độ lao tù, chống ly khai đảng cộng sản, đòi để tang Bác Hồ, đòi trao trả theo Hiệp định Pari.
 
 Chuồng cọp Côn Đảo 
 
6. Chăm sóc thương binh
Ở chiến trường và vùng giải phóng, các nữ chiến sỹ quân y đảm nhiệm từ việc đơn giản như sơ cứu vết thương, di chuyển, chăm sóc thương binh... đến thực hiện các ca mổ phức tạp. Bom đạn ác liệt, các trạm xá di chuyển liên tục, các chị tham gia làm lán, hầm dã chiến, thức trắng đêm, dầm mưa dưới hào, nhường khẩu phần ăn... để cứu chữa, đảm bảo an toàn cho thương binh, giúp họ mau chóng hồi phục sức khoẻ để tiếp tục công tác và chiến đấu. Ở vùng địch, ngoài việc chăm sóc, cứu chữa thương binh dưới hầm bí mật, chị em còn làm nhiệm vụ cung cấp thuốc, dụng cụ y tế... cho cách mạng. Cứu chữa thương binh dưới hào, 1970
 
 
Cầu người 
 

Cứu chữa thương binh dưới hào, 1970